Mời bạn CLICK vào liên kết bên dưới và MỞ ỨNG DỤNG SHOPEE để mở khóa toàn bộ chương truyện.

https://s.shopee.vn/7V8MIZcljb

Lưu ý: Nội dung trên chỉ xuất hiện 1 lần trong ngày, mong Quý độc giả ủng hộ. Xin chân thành cảm ơn!

Chương 4

Tứ chị nghĩ suốt một ngày, rồi thêu một cành mai ở góc tấm vải. Hai màu đỏ trắng, mũi kim dày mịn, đường nét cánh sống động như thật.

chị Ba mang tấm vải có thêu ra , báo giá cao hơn vải thường năm phần.

Có người thấy đắt. chị Ba liền trải tấm vải ra, để ánh mặt trời chiếu lên cành mai .

“Thấy chưa? Thêu thủ công đấy. Trong cả huyện chỉ có một nhà này thôi. Ở chỗ khác mà tìm được thì coi như tôi thua.”

Bà chủ tiệm may cạnh đã vỗ tiền xuống. “Tấm này tôi hết. Còn mẫu nào khác không?”

chị Ba cười đến cong cả mắt. “Có! mẫu gì cũng có!”

Về đến nhà, chị vỗ vai tứ chị: “Tứ , em phát tài rồi! Hai tay em còn khéo hơn tay tiên nữ nữa!”

Tứ chị cúi đầu, khóe môi khẽ cong lên.

Từ ngày đó, chị Ba chạy thị trường, tứ chị làm văn. Hai chị em một sáng một tối, phối hợp ý đến không chê vào đâu được.

Đến mùa xuân kiểm sổ sách—hai mươi cuộn vải vốn vào sáu mươi đồng, cộng cả tiền công thêu của tứ chị, bán được hai trăm mười đồng.

Lãi ròng một trăm năm mươi.

Con đường của chị Cả thì khác.

Gửi rau suốt hơn một năm, chị Cả đã quen mặt với mấy thu ở các cửa hàng tiêu trong huyện thành. Chị nói không nhiều làm việc rất đáng tin, đã hẹn mấy giao thì đúng mấy , chất lượng rau cỏ thì chưa bao pha tạp.

Có hôm một thu nói: “Chiêu Nam, chị chỉ bán rau thì tiếc quá. tiêu xã đang thiếu người, chị có tới làm không?”

chị Cả về nhà với mẹ tôi.

“Nếu nữ, con có đi không?”

chị Cả gật đầu rồi lại lắc đầu. “Mẹ, ở nhà không thể thiếu người——”

“Ở nhà còn có chúng tôi.” Tôi nói.

Mẹ tôi nắm tay chị. “Đi đi. Cả đời này con đã gánh cho cái nhà này quá nhiều rồi. đến lượt con sống cho mình.”

Mắt chị Cả đỏ lên. chị không . Chị trước nay chưa từng trước mặt người khác.

Chỉ là chị gật đầu.

Vào tiêu xã rồi, chị bắt đầu từ vị trí bán hàng thấp . Nói không nhiều, tay chân nhanh nhẹn, người khác trưa thì chị sắp xếp hàng hóa, người khác tan làm thì chị kiểm tra sổ sách. Chưa đầy năm đã được thăng làm tổ trưởng.

không phải mọi chuyện đều suôn sẻ.

Tháng thứ hai sau khi lên làm tổ trưởng, có một cũ trong quầy không phục — một con bé từ nông thôn tới thì làm sao có tư cách quản người khác?

Người đó cố tình làm sai một khoản sổ sách, định đẩy tội lên đầu chị Cả.

Đợt đó chị Hai đang học ở trường y vệ sinh huyện, cuối tuần tới tiêu xã đỡ. Chị nhìn qua sổ sách, chưa đến mười phút đã tìm ra chỗ sai.

“Chị, trang thứ ba, dòng thứ bảy, số hàng nhập và số tồn kho không khớp. Thiếu mười hai tấm.”

chị Hai tính toán rất nhanh là do rèn ra — ở nhà chị đã ghi sổ quầy rau suốt hai năm, trong số các chị em, chị là người nhạy cảm với con số.

chị Cả cầm quyển sổ chị Hai đánh dấu, đi tìm cấp trên. Chị không mách tội ai, chỉ nói: “Chỗ này hình như có chút sai sót, làm phiền anh xem .”

Mặt người cũ lập tức trắng bệch.

Từ đó về sau, không còn ai dám ngáng chân chị Cả nữa.

Năm 1983, chị Hai tốt nghiệp trường y vệ sinh. Chị được phân đến bệnh viện vệ sinh huyện làm y tá.

Ngày đi làm đầu tiên trở về, chị ngồi trước cơm, ngẩn người một lúc.

Tôi hỏi chị sao vậy.

Chị nói hôm nay khoa cấp cứu có một bé gái, tám tuổi, sốt cao năm ngày không lui. mẹ đưa tới thì người đã ngất rồi.

“Tôi nhìn là biết — giống hệt tôi năm đó.”

Một mình chị bận đến đêm, kéo đứa bé đó trở lại từ tay tử thần.

mẹ đứa bé quỳ ở hành lang cảm ơn chị. Khi chị đỡ họ đứng dậy, chợt đến ngày bốn năm trước, lúc mình tỉnh lại trong bệnh.

“Mẹ, có phải con lại gây phiền phức cho nhà mình rồi không.”

Chị cúi đầu nhìn bộ quần áo blouse trắng trên người mình.

“Lục , mạng này của con là nhà mình chắt chiu từng đồng, gom đủ bốn đồng rưỡi mới về được, mẹ chẳng dám lãng phí đâu.”

Mùa hè năm 1984, chị Ba đưa ra một quyết định lớn.

Đi xuống phía nam hàng.

Mẹ tôi giật nảy mình. “Xa đến nào?”

“Ngồi xe hai ngày hai đêm.”

“Con là con gái nhà người ta mà——”

“Mẹ, con đi.” chị Năm đứng ra.

tròn mười lăm tuổi, dáng người còn cao lớn hơn chị Ba một vòng. Chị gánh nước năm năm, vác bao tải ba năm, cả mười dặm tám làng chẳng ai có sức khỏe hơn chị.

“chị Ba đi một mình con không yên tâm. Chị lo cái miệng, em lo cái chân.”

chị Ba nhìn chị Năm một cái. “Được. Đi với chị.”

Hai chị em mang theo toàn bộ gia sản chị Ba dành dụm suốt ba năm — ba trăm hai mươi đồng tiền, lên chuyến tàu xanh đi xuống phương nam.

Ghế cứng, không có giường nằm. chị Ba co mình ngủ trên ghế, chị Năm ngồi trên chiếc ghế đẩu ở lối đi, mắt mở to tròn xoe, ai dám lại gần túi của chị Ba là chị liền trừng người đó.

Đến vải miền nam, chị Ba như cá gặp nước. Chị trả giá đến ông chủ đối diện than khổ không ngừng. chị Năm khuân hàng, vác bao, một người làm bằng hai người khuân vác, đến đàn ông trong nhìn mà há hốc mồm.

Lúc về, hai chị em vác ba bao hàng lớn. Đợi tàu ở nhà ga, chị Ba đếm số tiền còn lại — ba đồng hai hào.

“Em Năm, chỉ còn ba đồng hai hào thôi.”

chị Năm móc từ trong ngực ra hai cái bánh bao. Trước khi đi, tứ chị nhét cho, đi suốt hai ngày cũng chẳng nỡ .

“Đủ rồi. Hai cái bánh bao, ba đồng hai hào hai chai nước.”

chị Ba nhìn hai cái bánh bao cứng như đá . “Do tứ chị làm à?”

“Ừ.”

Mũi chị Ba cay xè, vội ngẩng đầu lên. “Bụi bay vào mắt rồi.”

chị Năm nào chịu tin. “chị Ba, chị à?”

cái đầu! bánh bao đi!”

Vụ hàng đó chở về, chị Ba thuê một mặt bằng ở tỉnh lị. Mười mấy mét vuông, chất đầy vải vóc và quần áo may sẵn.Năm đầu tiên lỗ vốn. Gấp đến khóe miệng mọc cả một loạt mụn nước.

Tôi lên tỉnh lị thăm chị. Chị ngồi trong căn nhỏ chất đầy hàng, cắn màn thầu ngẩn người nhìn sổ sách.

“Lục , có phải chị nóng vội quá không?”

“Không phải chị nóng vội, mà là hàng nhập vào không đúng.”

Tôi ngồi xuống chị đối sổ sách.

“Chị à, kiểu dáng ở miền nam thì đẹp thật, phụ nữ phương bắc mùa đông phải mặc áo , áo khoác ngoài, đến Tết còn phải mặc đồ tử tế. Mình cứ nhắm vào chỗ thiếu của địa phương mà nhập hàng, đừng bê nguyên xi kiểu dáng miền nam. Với lại tận dụng tay nghề của tứ chị đi — áo bình thường thêu một nhỏ, khăn quàng khâu thêm một vòng viền , chi phí chẳng tăng bao nhiêu, giá bán lại đội lên gấp đôi.”

“Đúng rồi——!”

chị Ba vỗ đùi đánh đét.

“Sao chị lại không nghĩ ra chứ!”

“Bởi vì chị chỉ lo chạy, quên ngồi xuống mà nghĩ.”

chị Ba nhìn tôi hồi lâu.

“Lục , sao em biết cái gì cũng thế.”

Tôi cười cười.

“Em đã từng mơ một giấc mơ rất dài.”

Năm thứ hai hòa vốn. Năm thứ ba lãi ròng tám nghìn.

Năm 1986, chị Ba trở thành người đầu tiên trong nhà có vạn đồng.

Sau khi phát tài, việc đầu tiên chị Ba làm là quay về một chuyến đến thôn Liễu Câu.

Không phải để thăm tôi.

Chị đến trường tiểu học trong thôn tìm hiệu trưởng.

“Hiệu trưởng, tôi bỏ tiền sửa hai học. Điều kiện là — sau này con gái trong thôn, bất kể nhà có hoàn cảnh thế nào, đều phải đi học. Nhà nào không cho con gái đến trường, tôi sẽ không để yên đâu.”

Hiệu trưởng nhìn cô gái ngoài hai mươi tuổi, da ngăm đen, giọng còn lớn hơn đàn ông này, sững ra hồi lâu.

“Chu… Chu đồng chí, như vậy thì tốn bao nhiêu tiền?”

“Về tiền bạc ông không cần lo.”

cạnh có người lầm bầm một câu: “Một con nhóc thì có được mấy đồng mà còn ra vẻ.”

chị Ba ngoảnh đầu lại, nheo mắt nhìn người đó một cái.

“Năm ngoái số thuế tôi nộp còn nhiều hơn cả tiền nhà anh kiếm được trong một năm. Còn ý kiến gì không?”

Người kia im bặt.

Ngày căn học được sửa xong, chị Ba đứng dưới chân tường quét lại vôi trắng, nhìn mấy cô bé tết bím tóc đeo cặp sách chạy vào trong.

Chị đến dáng vẻ năm mười ba tuổi của mình, tay cầm cây củi nhóm lửa chắn trước mặt mẹ tôi; đến chị Cả chai cả tay vì phồng rộp; đến tứ chị ngồi dưới ngọn đèn dầu khâu con hổ vải; đến chị Hai nằm trên giường bệnh, nói: “Có phải em lại gây thêm phiền phức rồi không?”

Chị sờ sờ mũi, rồi quay người đi.

Con đường tứ chị đi là con đường yên lặng .

Sau khi chị Ba đứng vững gót ở tỉnh thành, chị tứ chị nối với các đầu mối ngoài. Có một người buôn đồ thủ công nhìn qua sản phẩm thêu của tứ chị, lật đi lật lại xem hồi lâu, hỏi có thể cấp hàng loạt được không.

chị Ba hớn hở chạy về chuyện, nghe xong tứ chị nghĩ suốt ba ngày.

“Không làm.”

chị Ba suýt nữa nhảy dựng lên. “Tứ , em có vấn đề gì à? Đơn hàng số lượng lớn mà không nhận?”

Tứ chị không nóng không vội. “Chị, làm hàng loạt sẽ không ra được thứ em . Chị cứ làm quần áo của chị, em làm thêu của em. Hàng loạt thì ai cũng làm được, em làm thứ người khác không làm được.”

chị Ba tức đến đi vòng trong ba vòng, rốt cuộc cũng không nói thêm gì.

Tứ chị mất trọn hai năm, thêu nên một bức Bách Điểu Triều Phượng dài bốn thước. Hơn một nghìn loại mũi thêu, ba mươi sáu kiểu phối màu, từng đường vân trên mỗi chiếc lông vũ đều không hề trùng lặp.

Ban ngày nhà làm việc, ban đêm lại mượn ánh đèn mà làm thêu. Có lần chị Ba đêm thức dậy, thấy tứ chị vẫn còn sáng, đẩy cửa ra xem — chị đang thêu đến đuôi phượng, mắt cũng chẳng ngẩng lên.

chị Ba miệng thì mắng “cứng đầu”, vẫn quay người đi sang bếp hâm một bát cháo bưng qua.

đi. xong rồi hãy thêu tiếp.”

Tứ chị ngẩng đầu, khóe môi cong lên.

Ngày bức thêu được chọn vào triển lãm mỹ thuật thủ công của tỉnh, chị Ba ngồi xe đường dài cả đêm chạy đến xem.

Chị đứng trước tủ trưng bày nhìn rất lâu. Sau lớp kính, Bách Điểu Triều Phượng trải ra rực rỡ, đuôi phượng dưới ánh đèn ánh lên sắc bóng như tơ lụa.

cạnh tấm thẻ giới thiệu viết — “Bách Điểu Triều Phượng”, tác giả: Chu Niệm Nam.

chị Ba mất ngày mới bật ra được một câu: “Được rồi. Em giỏi.”

Phóng tỉnh đến phỏng vấn. Tứ chị ngồi trước ống kính, trong tay vẫn kẹp cây kim thêu, chẳng biết nhìn đi đâu.

“Chu giáo , tay nghề của chị học từ ai vậy?”

Tứ chị nghĩ một lúc. “Không học với ai cả. Hồi nhỏ nhà nghèo, không nổi đồ chơi, tôi nhặt vải vụn ghép thành đồ để chơi. Sau này Lục chị dẫn tôi ra bán hổ , kiếm được tiền để chị Hai chữa bệnh.”

“Từ lúc đó đã nghĩ, đôi tay này kiếm được tiền cứu được người, thì phải dùng cho thật tốt.”

“Bức thêu nào chị hài lòng ?”

Tứ chị cúi đầu nghĩ nghĩ.

“Con hổ đầu tiên.”

chị Năm là người khiến các chị em bất ngờ .

Mùa đông năm 1985, bộ đội về huyện tuyển quân. chị Năm nhìn thấy thông báo trên tường công xã, đứng xem rất lâu.

Về nhà, chị nói một câu. “Mẹ, con đi lính.”

chị Ba là người đầu tiên nhảy ra. “Con là một con gái——”

“Con gái thì sao? Trên thông báo đã viết rồi, tuyển nữ binh.”

Mẹ tôi nhìn chị. chị Năm lúc đó mười sáu tuổi, đen nhẻm, gầy mà rắn rỏi, đứng đó như một cây dương non nhỏ.

“Nghĩ kỹ rồi à?”

“Nghĩ kỹ rồi.”

“Đi đi.”

Kiểm tra thể lực đứng đầu, bắn súng đứng thứ hai.

Ngày đi, cả nhà tiễn chị ra tận đầu làng.

chị Ba nhét cho chị một cái túi vải. “Năm mươi đồng với hai đôi miếng lót giày. Miếng lót giày là tứ chị thêu, đừng làm mất.”

chị Hai cài một túi thuốc nhỏ lên eo chị. “Có thuốc cảm, thuốc cầm tiêu chảy, băng cá , đều đã ghi nhãn cả rồi.”

chị Cả không nói gì, chỉ chỉnh lại cổ áo cho chị Năm.

Tứ chị đưa qua một con hổ chỉ to bằng lòng tay. Chữ “Vương” trên đầu hổ được viền bằng chỉ vàng.

“Mang theo. Trừ tà.”

chị Năm nhận , sống mũi đột nhiên cay xè. Vội ngẩng đầu lên, chớp mắt thật mạnh.

cái gì, lại chẳng phải không về nữa.”

Không ai nói chị . Là chính chị tự khai trước.

Em út vùng khỏi tay mẹ tôi, lảo đảo chạy tới ôm chân chị Năm.

“chị Năm chị đi đâu thế?”

chị Năm ngồi xổm xuống, xoa đầu nó. “Chị đi nhập ngũ. Đợi chị về, chị dẫn em đi xem xe tăng.”

“Xe gì cơ?”

“Xe tăng. To lắm, còn lớn hơn cả con bò.”

“Còn lớn hơn cả bò á?!”

chị Năm cười ha hả, bế em út lên xoay một vòng.

Đặt nó xuống, chị vẫy vẫy tay về phía chúng tôi rồi quay người đi.

Đi được hơn mười bước, chị bỗng quay đầu lại, gọi to một tiếng.

“Lục ——!”

“Gì thế?”

“Cảm ơn em.”

Gọi xong là chị chạy mất. Bím tóc phía sau cứ đung đưa qua lại.

Tôi biết chị đang cảm ơn vì điều gì.

Mùa thu năm , nước sông lạnh lắm.

tay tôi túm chặt vạt áo chị, đến tận bây nghĩ lại vẫn còn run.

chị đã sống.

Đứng ở nơi này, bằng giọng nói thật to, chẳng sợ gì mà sống tiếp.

Mùa thu năm 1987, tôi có quầy cố định của riêng mình ở nông sản huyện, chuyên buôn bán rau.

Từ ba mẫu đất bãi sông khởi đầu, đến đã nhận hàng của năm hộ trồng rau. Tôi rõ năm nào huyện làm con đường mới, năm nào nhà cơ quan mở rộng, năm nào mùa đông giá rau tăng gấp đôi.

Những ký ức này không phải kiểu tay vàng vô não —— nó chỉ chỉ cho phương hướng, còn con đường vẫn phải từng bước mà đi.

Mùa thu năm , có người giới thiệu đối tượng cho tôi.

Bán đậu phụ. Người ở trấn cạnh, họ Thẩm, tên Thẩm Hữu Căn. Là người thật thà, không hút thuốc không uống rượu, chỉ là ít nói.

“Ít nói thì tốt.” chị Ba nói qua điện thoại. “Đỡ giống chúng ta.”

Kiếp trước chuyện cưới xin của tôi căn bản chẳng ai hỏi ý kiến. tôi nhận hai chai rượu của người ta là đã hứa gả tôi đi, đến khi chồng rồi mới phát hiện người đó cũng cùng một kiểu với tôi —— lúc không uống rượu thì hèn nhát, uống vào thì phình to cái tôi.

Kiếp này tôi phải tự mình chọn.

Lần đầu gặp nhau là ở . Anh ta cô anh ta bán đậu phụ, đứng sau quầy cúi đầu cắt, chẳng hề rao một tiếng nào.

Tôi hai miếng đậu phụ, anh ta cho thêm một miếng.

“Không cần——”

“Tặng.”

Chỉ có hai chữ. Rồi anh ta cúi đầu tiếp tục cắt. Đầu tai đỏ bừng.

Lần gặp thứ hai là khi nan chiếc xe cút kít chở rau của tôi bị gãy, nghiêng lệch đường. Anh ta đi ngang qua, chẳng nói gì cả, ngồi xổm xuống sửa.

Sửa suốt tiếng. Đứng lên phủi bụi.

“Xong rồi.”

Lại vẫn chỉ hai chữ .

Sau này chị Ba đến thăm tôi, cứ quyết kéo Thẩm Hữu Căn uống mấy chén. Anh uống cân rượu thì mặt đỏ bừng, nói cũng nhiều hơn một chút.

Từ hai chữ thành bốn chữ.

Tùy chỉnh
Danh sách chương